Chúng tôi hợp tác và kết nối, vì những mối quan hệ đối tác lâu dài và bền vững.
Chúng tôi thiết kế dịch vụ "may -đo" đặc biệt, đáp ứng nhu cầu riêng biệt của Bạn.
Hãy gặp chúng tôi,
và bạn sẽ thấy SỰ KHÁC BIỆT.

Bảo mật thông tin trong Hoà giải thương mại

Bài viết của Kim Thanh - Paralegal at LLVN.

BẢO MẬT THÔNG TIN TRONG HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI

Phương thức giải quyết tranh chấp thông qua thủ tục hòa giải đang ngày càng được các doanh nghiệp ưu tiên lựa chọn. Hành lang pháp lý cho cơ chế hoà giải tranh chấp thương mại được cụ thể hoá tại Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ về hòa giải thương mại (“Nghị định 22/2017”) có hiệu lực vào ngày 15/4/2017. Trong bài viết này, bạn Kim Thanh – một thành viên trẻ của Lawlink Việt Nam, xin giới thiệu đến các bạn quan tâm chủ đề này về một khía cạnh khá quan trọng trong Hoà giải thương mại: Bảo mật thông tin.

1. Có phải bất cứ tranh chấp nào cũng sẽ áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp “Hòa giải thương mại”:  
Phương thức này không được áp dụng đối với tất cả tranh chấp mà chỉ áp dụng với những tranh chấp thuộc ba (03) nhóm: (i) Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; (ii) Tranh chấp giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; và (iii) Tranh chấp giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng hòa giải. Do vậy chủ thể chính có khả năng cao sẽ sử dụng phương thức hòa giải thương mại này chính là các thương nhân, hay cụ thể hơn là các doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014.

2. Những bất cập trong các quy định về bảo mật thông tin trong Hoà giải thương mại:

Một trong những vấn đề nổi bật rất được quan tâm ở phương thức giải quyết tranh chấp này chính là “Bảo mật hay tiết lộ thông tin trong quá trình hòa giải và đặc biệt là sau khi hòa giải kết thúc”. Nghị định 22/2017 có các điều khoản quy định về bảo mật thông tin (Tại điều luật về quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên (Điều 9), những hành vi bị cấm đối với hòa giải viên thương mại (Điều 10)), tuy nhiên, theo nghiên cứu của chúng tôi, những quy định này còn quá sơ bộ. Về phía các bên tranh chấp, đã không có quy định nào về nghĩa vụ của các bên phải bảo mật thông tin cũng như không quy định cách thức trao - nhận thông tin giữa các bên tranh chấp. Thực tế này sẽ dẫn đến trường hợp các bên gặp lúng túng khi trao đổi thông tin trong quá trình hòa giải, và đặc biệt là khi hòa giải không giải quyết được xung đột và cần áp dụng đến các phương thức giải quyết tranh chấp khác tiếp theo. 

Tham khảo các quy định ở các hệ thống pháp luật khác nhau về hòa giải, trong đó nổi bật là Luật mẫu của Ủy ban pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) về hòa giải thương mại năm 2002 (“Luật mẫu”). Luật mẫu quy định cụ thể nghĩa vụ bảo mật/khả năng công bố thông tin của hòa giải viên, các bên tranh chấp trong quá trình hòa giải (Điều 8), bảo mật với bên thứ ba sau thủ tục hòa giải (Điều 9) và cả vấn đề tiết lộ thông tin ở phương thức giải quyết tranh chấp tiếp theo (Điều 10). Theo đó, khi tranh chấp đã được giải quyết bằng hòa giải thương mại thì các bên phải có nghĩa vụ bảo mật thông tin liên quan đến thủ tục hòa giải đối với bất kỳ bên thứ ba nào khác sau thủ tục hòa giải. Trong trường hợp, hòa giải không hóa giải được mâu thuẫn thì tranh chấp sẽ được tiếp tục giải quyết bằng các phương thức giải quyết tranh chấp khác như tố tụng Tòa án/Trọng tài. Do vậy khả năng rất cao nguyên tắc bảo mật sẽ bị chính các bên vi phạm ở giải đoạn tiếp theo này. 

Trong khi Nghị định 22 không tồn tại bất kỳ quy định nào định hướng xử sự của các bên thì Luật mẫu có quy định rất rõ (tại Điều 10) theo hướng, nghĩa vụ không được tiết lộ thông tin liên quan đến hòa giải tại các thủ tục tố tụng khác chỉ đặt ra đối với các loại thông tin có tính chất “một bên”, do đối phương đơn phương cung cấp/thừa nhận/đề xuất, còn đối với thông tin do chính mình cung cấp/thừa nhận/đề xuất thì không thuộc phạm vi nghĩa vụ bảo mật thông tin. Từ quy định này ta hiểu rằng không có một sự giới hạn trong việc cung cấp thông tin của chính mình để chứng minh, bảo vệ các yêu cầu của mình tại các thủ tục tố tụng khác như Tòa án/Trọng tài. Theo chúng tôi, quy định này của Luật mẫu rất hợp lý phù hợp với nguyên tắc chung “quyền của chủ thể nắm giữ thông tin” và giúp giải quyết vấn đề cung cấp chứng cứ để chứng minh khi tranh chấp được giải quyết bằng tố tụng Tòa án/Trọng tài vì các bên chỉ có thể yêu cầu cơ quan tài phán bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình thì phải thực hiện nghĩa vụ chứng minh bằng chứng cứ.

Sự thiếu vắng quy định về vấn đề bảo mật/tiết lộ thông tin sau hòa giải trong Nghị định 22 có thể tạo nên một cách hiểu rằng bảo mật thông tin của thủ tục hòa giải là mâu thuẫn với quyền chứng minh bằng chứng cứ của đương sự trong pháp luật về tố tụng dân sự. Bởi lẽ họ cho rằng một khi đã tham gia hòa giải thì mọi thông tin liên quan đến hòa giải phải được giữ kín vậy nên trong thủ tục tố tụng Tòa án/Trọng tài, đương sự không thể cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. 

3. Mạn phép luận bàn về giải pháp: 
Để giải quyết vấn đề trên, chúng tôi cho rằng trước tiên pháp luật về hòa giải thương mại Việt Nam cần quy định rõ về nội hàm, phạm vi của nghĩa vụ bảo mật thông tin trong và sau thủ tục hòa giải bằng những quy định tách biệt gồm: (i) Bảo mật thông tin trong hòa giải giữa Hoà giải viên với các bên tranh chấp, giữa các bên tranh chấp với nhau; (ii) Bảo mật thông tin sau thủ tục hòa giải; và (iii) Bảo mật thông tin ở các phương thức giải quyết tranh chấp tiếp theo. Mỗi quy định khác nhau sẽ hướng đến bối cảnh, các đối tượng điều chỉnh, phạm vi thông tin chịu ràng buộc bởi nghĩa vụ bảo mật là khác nhau. Chẳng hạn như quy định bảo mật thông tin sau thủ tục hòa giải được quy định nhằm hướng đến điều chỉnh mối quan hệ của các bên tranh chấp với bên thứ ba bất kỳ nói chung sau khi đã qua hòa giải về tất cả các thông tin liên quan đến tranh chấp đã được trao đổi trong thủ tục hòa giải. Tuy nhiên khi tranh chấp được giải quyết bởi Tòa án/Trọng tài - là các cơ quan có thẩm quyền sẽ giúp các bên giải quyết mẫu thuẫn, thì nghĩa vụ bảo mật thông tin chỉ dừng lại ở các thông tin mà đối phương cung cấp/thừa nhận/đề xuất.

4. Lưu ý đến các doanh nhân khi lựa chọn phương thức “Hoà giải thương mại” để giải quyết các tranh chấp thương mại:

(i) Sau khi đã lựa chọn hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp và trước khi chính thức bước vào phiên hòa giải thì các bên có thể lập một bản ghi nhớ/thỏa thuận với mục đích thể hiện sự đồng thuận rằng, việc hòa giải sẽ tuân thủ theo các quy định của Nghị định 22/2017 và các quy định khác của pháp luật Việt Nam. Riêng đối với các vấn đề mà Nghị định 22/2017 không quy định hoặc quy định không đầy đủ thì các quy định của Luật mẫu hoặc bất kỳ luật hòa giải thương mại (do các bên lựa chọn) sẽ được ưu tiên áp dụng.
(ii) Để cụ thể hơn, các bên thậm chí có thể thỏa thuận rõ về phạm vi cung cấp hay bảo mật thông tin trong quá trình hòa giải, sau thủ tục hòa giải và trong các thủ tục giải quyết tranh chấp tiếp theo như phân tích quy định của Luật mẫu nêu trên.

Cuối cùng, hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp ôn hòa, hướng đến giá trị bền vững trong mối quan hệ giữa các bên trong giao dịch và mang lại nhiều lợi ích cho tất cả các bên. Trong bối cảnh Nghị định 22/2017/NĐ-CP đã có hiệu lực thì các doanh nghiệp cần trang bị kịp thời những hiểu biết cơ bản về phương thức giải quyết tranh chấp này để đảm bảo các quyền và lợi ích của mình một cách tốt nhất trên cơ sở các quy định của pháp luật.

Tin tức liên quan

Bảo lãnh Cha mẹ và Ông bà tới Canada theo diện Thường trú nhân

Sẽ đánh thuế 1% của giá chuyển nhượng khi M&A

Những điều cần lưu ý khi xuất hàng sang Mỹ

Đất và tiền

Thị trường thực phẩm, giải khát thu hút doanh nghiệp ngoại

Mở rộng thu thuế tài sản vì người Việt đang giàu nhanh?

Phê duyệt chỉ giới đường đỏ nút giao thông giữa đường Phạm Hùng với đường nối với đường Lê Đức Thọ

Không sống ở Việt Nam, sao bắt đóng quỹ hưu trí, tử tuất?

Sáu xu hướng tiêu dùng trong ngành thực phẩm toàn cầu

Năm hộ dân kêu cứu vì bị bịt kín lối đi

Tăng phí bảo hiểm y tế sao cho đồng thuận