Work with us, be a link, for strong long term relationships.
For your unique demands, we provide tailor-made service.
Meet us,
and you will see the DIFFERENCE.

Công ty đại chúng quy mô lớn và câu chuyện quản trị

Khi sàn chứng khoán bắt đầu sôi động và người chơi chứng khoán cũng nhấp nhổm với các mã xanh, đỏ thì khái niệm Công ty đại chúng cũng bắt đầu được người sở hữu cổ phần quan tâm nhiều hơn.

Công ty đại chúng quy mô lớn – anh là ai? 

Trước hết, về khái niệm “Công ty đại chúng” theo quy định của pháp luật Việt Nam, là công ty cổ phần thuộc một trong ba loại hình sau đây: (a) Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng; (b) Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán; (c) Công ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên (Điều 25 Luật Chứng khoán). Như vậy, chỉ cần hội tụ một trong ba yếu tố trên, công ty cổ phần sẽ được coi là công ty đại chúng. Theo số liệu thống kê của Ủy ban Chứng khoán, tại thời điểm 31/12/2015, Việt Nam có gần 2.000 công ty đại chúng, trong đó có gần 700 doanh nghiệp niêm yết. 

Còn “Công ty đại chúng quy mô lớn” là công ty đại chúng có vốn góp của chủ sở hữu từ 120 tỷ đồng trở lên tại báo cáo tài chính năm gần nhất đã được kiểm toán (theo khoản 2 Điều 2 Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, sau đây được gọi là “Thông tư số 155”). Vậy Công ty đại chúng là gì? 

Như vậy, công ty đại chúng quy mô lớn là các công ty đại chúng có quy mô vốn lớn hoặc/ và có khả năng huy động vốn lớn từ thị trường chứng khoán. Khi trở thành công ty đại chúng nói chung và công ty đại chúng quy mô lớn nói riêng, các công ty phải tuân thủ các nghĩa vụ sau: (i) công bố thông tin theo quy định của Thông tư số 155, (ii) tuân thủ các nguyên tắc quản trị công ty theo Thông tư số 121/2012/TT-BTC ngày 26/7/2012 quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng (sau đây được gọi là “Thông tư số 121”), (iii) Thực hiện đăng ký, lưu ký chứng khoán tập trung tại Trung tâm lưu ký chứng khoán. 

Công ty đại chúng quy mô lớn và câu chuyện quản trị

Khác với công ty cổ phần thông thường, công ty đại chúng quy mô lớn phải duy trì cơ cấu quản trị đặc biệt hơn và khắt khe hơn nhiều, cụ thể: 

Thứ nhất, đối với Hội đồng Quản trị của Công ty đại chúng quy mô lớn: (i) công ty phải có  Hội đồng Quản trị với số lượng thành viên tối thiểu là năm (05) thành viên và tối đa là mười một (11) thành viên; (ii) Cơ cấu thành viên Hội đồng quản trị cần đảm bảo sự cân đối giữa các thành viên nắm giữ các chức danh điều hành với các thành viên độc lập, trong đó tối thiểu một phần ba (1/3) tổng số thành viên Hội đồng quản trị là thành viên độc lập; (iii) thành viên Hội đồng quản trị của một công ty không được đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị của trên năm (05) công ty khác, trừ trường hợp là thành viên Hội đồng quản trị của các công ty trong cùng tập đoàn hoặc các công ty hoạt động theo nhóm công ty, bao gồm công ty mẹ - công ty con, tập đoàn kinh tế hoặc là người đại diện của công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán (Điều 30 Thông tư số 121). 

Thứ hai, Công ty phải có Quy chế quản trị công ty với đầy đủ các nội dung theo quy định của pháp luật và quy chế này phải được công bố công khai trên trang tin điện tử chính thức (website) của Công ty và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (Điều 31 Thông tư số 121). 

Thứ ba, phải thành lập và duy trì cơ cấu của các tiểu ban giúp việc cho Hội đồng Quản trị theo đúng quy định của pháp luật, cụ thể: tiểu ban chính sách phát triển, tiểu ban nhân sự, tiểu ban lương thưởng và các tiểu ban đặc biệt khác theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông. Trong đó, tiểu ban nhân sự và tiểu ban lương thưởng phải có ít nhất một (01) thành viên Hội đồng quản trị độc lập làm trưởng ban. Tường hợp các công ty không thành lập các tiểu ban thì Hội đồng quản trị cử thành viên Hội đồng quản trị độc lập phụ trách riêng về từng vấn đề như lương thưởng, nhân sự (Điều 32 Thông tư số 121).

Trên thực tế, để đảm bảo đạt đủ 03 yêu cầu trên không phải là điều đơn giản, đặc biệt là yêu cầu về việc duy trì 1/3 số lượng thành viên Hội đồng Quản trị Công ty phải là thành viên Hội đồng Quản trị độc lập, tức là thành viên đó phải là người đáp ứng các điều kiện sau:

- Là thành viên Hội đồng quản trị không điều hành và không phải là người có liên quan với Giám đốc (Tổng giám đốc), Phó giám đốc (Phó Tổng giám đốc), Kế toán trưởng và những cán bộ quản lý khác được Hội đồng quản trị bổ nhiệm;

- Không phải là thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng giám đốc) của các công ty con, công ty liên kết, công ty do công ty đại chúng nắm quyền kiểm soát;

- Không phải là cổ đông lớn hoặc người đại diện của cổ đông lớn hoặc người có liên quan của cổ đông lớn của công ty;

- Không làm việc tại các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật, kiểm toán cho công ty trong hai (02) năm gần nhất;

- Không phải là đối tác hoặc người liên quan của đối tác có giá trị giao dịch hàng năm với công ty chiếm từ ba mươi phần trăm (30%) trở lên tổng doanh thu hoặc tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào của công ty trong hai (02) năm gần nhất. 

(Khoản 3 Điều 2 Thông tư số 155)

Với số lượng thành viên HĐQT độc lập chiếm 1/3 tổng số thành viên Hội đồng Quản trị , tức là tối thiểu phải có 4/11 thành viên là thành viên độc lập, các quyết định của Hội đồng Quản trị luôn luôn phải có sự đồng thuận của tối thiểu 02 thành viên Hội đồng Quản trị độc lập. Với tư cách là người quản trị công ty, các thành viên độc lập sẽ đưa ra các quyết định mang tính độc lập, khách quan hơn, không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như quan hệ sở hữu hay quan hệ chỉ đạo, điều hành … Tuy nhiên, về phía chủ sở hữu, ít doanh nghiệp nào muốn có sự tham gia của quá nhiều “người lạ” trong quá trình quản trị, điều hành. Dẫu biết rằng đây là chuẩn mực quốc tế và các công ty đại chúng quy mô lớn cần phải duy trì để nâng cao năng lực quản trị cũng như tăng cường tính minh bạch trong quá trình hoạt động nhưng xét dưới góc độ thực tế tại Việt Nam, vấn đề này vẫn mang tính hình thức là phổ biến. 

Trong lĩnh vực ngân hàng, ngân hàng nhà nước còn đòi hỏi thành viên hội đồng quản trị độc lập phải là những người có kinh nghiệm, có chuyên môn trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán. Mỗi thành viên Hội đồng Quản trị chỉ có nhiệm kỳ 5 năm nên sau 5 năm thành viên Hội đồng Quản trị hiện thời không còn được coi là độc lập nữa và buộc phải tìm thành viên khác thay thế do vi phạm điều kiện về chưa từng làm việc cho ngân hàng trước đó (Điều 50 Luật các Tổ chức Tín dụng 2010). Điều này cũng là cần thiết nhằm hạn chế tối đa tầm ảnh hưởng của các “ông chủ” tới quyết định của thành viên độc lập. Ngân hàng nào hiện nay cũng đang duy trì cơ cấu này vì nếu không sẽ không đủ điều kiện xin cấp các loại giấy phép nghiệp vụ hay mở mạng lưới. 

Đối với các lĩnh vực khác, pháp luật không có quy định ràng buộc nào khác để đảm bảo các yêu cầu trên được thực thi. Nghị định số 108/2013/NĐ-CP ngày 23/09/2013 của Chính phủ hướng dẫn về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán không đề cập đến bất kỳ chế tài nào cho trường hợp Công ty đại chúng không duy trì được các yêu cầu về mặt quản trị trên. Vô hình chung, các yêu cầu về quản trị đối với công ty đại chúng chỉ mang tính hình thức và thiếu tính thực tế, cho dù khi hội nhập quốc tế, các công ty đại chúng muốn chơi trong sân chơi quốc tế, buộc phải tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về quản trị, trong đó có 03 vấn đề cốt lõi trên. 

Hoàng Tuyết Mai - Lawlink Vietnam's Contributor.